• minhhuynhlawlinkvn

ĐẦU TƯ THEO PHƯƠNG THỨC PPP – THỰC THI THEO LUẬT MỚI TỪ 01/01/2021

Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công - tư (PPP) được Quốc hội khoá XIV thông qua vào ngày 18/6/2020 (“Luật PPP 2020”) và có hiệu lực từ ngày 1-1-2021. Luật PPP có 10 điểm mới so với các văn bản quy phạm pháp luật trước đây. Cụ thể:


1. Rút gọn còn 05 lĩnh vực đầu tư PPP:

Luật PPP 2020 đã rút gọn lĩnh vực đầu tư theo phương thức PPP. So với Nghị định 63 (là quy định hiện hành về PPP) thì Luật PPP 2020 quy định chỉ còn 5 lĩnh vực so với 9 lĩnh vực trước đây. 5 lĩnh vực này bao gồm: Giao thông vận tải; Y tế, Giáo dục đào tạo; Hạ tầng công nghệ thông tin; Thủy lợi, cung cấp nước sạch, thoát nước và xử lý chất thải; Lưới điện, nhà máy điện.


2. Về quy mô đầu tư:

Hướng tới dự án có quy mô đủ lớn, tối thiểu là 200 tỉ đồng. Đối với những dự án thuộc lĩnh vực xã hội hoặc địa bàn kinh tế rất khó khăn thì có quy mô tối thiểu là 100 tỉ đồng.


3. Phân loại dự án PPP và thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư:

Đây là một điểm rất mới so với các quy định hiện hành về PPP. Do Luật PPP nằm trong mối quan hệ hữu cơ của đầu tư công và đầu tư tư nhân nên nó có những nét giống với Luật đầu tư công và Luật đầu tư tư nhân, đó là thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư thuộc về Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và Hội đồng Nhân dân cấp tỉnh. Hội đồng thẩm định dự án PPP thông qua 3 nấc Hội đồng thẩm định cơ bản, bao gồm Hội đồng thẩm định nhà nước, Hội đồng thẩm định liên ngành, Hội đồng thẩm định cấp cơ sở.


4. Về vốn nhà nước tham gia thực hiện dự án PPP:

Ở điều 69 đã quy định phổ vốn nhà nước tham gia dự án rõ hơn so với Nghị định 63 hiện hành, nhưng vẫn duy trì hỗ trợ ở 2 nhóm hợp đồng là các dự án BOT, BTO và BOO, và nhóm BTL, BLT. Điểm mới ở đây là tỷ lệ vốn nhà nước tham gia dự án PPP không quá 50% tổng mức đầu tư của dự án.


5. Quy định chi tiết tư cách hợp lệ của nhà đầu tư và quy trình lựa chọn nhà đầu tư:

Không phải nhà đầu tư nào cũng có thể tham gia đầu tư theo phương thức PPP mà chỉ những nhà đầu tư đáp ứng được các điều kiện sau:

- Có đăng ký thành lập, hoạt động do cơ quan có thẩm quyền của nước mà nhà đầu tư đang hoạt động cấp;

- Hạch toán tài chính độc lập; bảo đảm cạnh tranh trong lựa chọn nhà đầu tư;

- Không đang trong quá trình giải thể; không thuộc trường hợp mất khả năng thanh toán theo quy định của pháp luật;

- Không đang trong thời gian bị cấm tham gia hoạt động đầu tư theo phương thức PPP;

- Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ phải liên danh với nhà đầu tư thuộc khu vực tư nhân để tham dự thầu;

- Nhà đầu tư thành lập theo pháp luật nước ngoài phải đáp ứng điều kiện tiếp cận thị trường khi tham dự thầu dự án thuộc ngành, nghề tiếp cận thị trường có điều kiện theo pháp luật về đầu tư.

Đây cũng là lần đầu tiên các quy định về đấu thầu, lựa chọn nhà đầu tư được tích hợp trong hệ quy định về PPP. Nghị định hướng dẫn chi tiết về lựa chọn các nhà đầu tư sẽ được ban hành.


6. Doanh nghiệp dự án PPP được thành lập theo dạng công ty

Theo quy định tại Điều 44, sau khi có quyết định phê duyệt kết quả lựa chọn nhà đầu tư, nhà đầu tư chỉ được thành lập doanh nghiệp dự án PPP theo mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần (không được là công ty đại chúng) và có mục đích duy nhất để ký kết, thực hiện hợp đồng dự án PPP.

Doanh nghiệp được phát hành, mua lại trái phiếu riêng lẻ do mình đã phát hành, chứng khoán để huy động vốn thực hiện dự án PPP; không được phát hành trái phiếu riêng lẻ chuyển đổi và trái phiếu riêng lẻ kèm chứng quyền.

Việc phát hành trái phiếu phải đáp ứng đủ 03 điều kiện:

- Số vốn huy động thông qua phát hành trái phiếu không vượt quá giá trị phần vốn vay được xác định tại hợp đồng dự án PPP;

- Vốn huy động thông qua phát hành trái phiếu không được sử dụng cho bất kỳ mục đích nào ngoài mục đích thực hiện dự án theo hợp đồng dự án PPP hoặc cho việc cơ cấu lại các khoản nợ của doanh nghiệp;

- Doanh nghiệp dự án PPP phải mở tài khoản phong tỏa để nhận tiền mua trái phiếu và giải ngân theo đúng quy định.

7. Cơ chế chia sẻ phần tăng, giảm doanh thu

So với dự thảo được trình trước đó, Điều 84 Luật này đã chốt phương án thực hiện cơ chế chia sẻ phần tăng, giảm doanh thu như sau:

- Khi doanh thu thực tế đạt cao hơn 125% mức doanh thu trong phương án tài chính tại hợp đồng dự án PPP, Nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án PPP chia sẻ với Nhà nước 50% phần tăng thu giữa doanh thu thực tế đó và doanh thu đạt ở mức 125% doanh thu trong phương án tài chính.

- Nhà nước chia sẻ với nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án PPP 50% phần giảm thu giữa doanh thu thực tế và doanh thu cam kết tại hợp đồng đối với dự án PPP đáp ứng được một số điều kiện nhất định.

Đây được đánh giá là một cơ chế mới, đặc biệt quan trọng trong quá trình thực hiện dự án PPP.


8. Các hoạt động hậu kiểm của Nhà nước:

Các hoạt động kiểm tra, thanh tra, kiểm toán. Bên cạnh đó là các hoạt động giám sát.


9. Các loại hợp đồng dự án PPP:

Tại điều 45, kế thừa các quy định về PPP cũ, đã nêu ra 2 nhóm hợp đồng là: kinh doanh công trình dự án BTO, BOT và BOO; và nhóm BLT, BTL. Còn tại điều 101 của Luật PPP đã quy định không ghi nhận các dự án áp dụng loại hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT) là dự án PPP. Kể từ thời điểm Luật PPP có hiệu lực, Việt Nam sẽ dừng triển khai dự án mới áp dụng loại hợp đồng BT.


Mọi nhu cầu tư vấn, hỗ trợ, doanh nghiệp có thể liên hệ với chúng tôi để nhận được tư vấn tốt nhất.

SĐT: +84 908 107 788, email: info@lawlinkvn.com


Theo dõi nhiều bài viết hơn của chúng tôi tại:

‘Website: www.lawlinkvn.com

Fanpage: www.facebook.com/Lawlink-vietnam

LinkedIn: www.linkedin.com/lawlinkvietnam

17 view0 comment
®© Copyright

© 2019 LAWLINKVN Law LLC | Điều kiện sử dụng