top of page
Tìm kiếm

GIẢI ĐÁP 05 VƯỚNG MẮC TRONG XÉT XỬ VỤ ÁN KINH DOANH THƯƠNG MẠI

Ngày 27/12/2022 Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Công văn số 206/TANDTC-PC về việc thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong công tác xét xử vụ án hình sự, dân sự, kinh doanh thương mại và hành chính.

LLVN cập nhật nội dung của 05 vướng mắc khi xét xử vụ án kinh doanh thương mại được Tòa án nhân dân tối cao giải đáp, cụ thể như sau.

1. Vướng mắc 1 – Không xác định được nơi cư trú của người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng

Vướng mắc:

Trong vụ án kinh doanh thương mại, sau khi Tòa án thụ lý vụ án thì người thế chấp tài sản (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) chết. Nguyên đơn và Tòa án không xác định được nơi cư trú của người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tòa án căn cứ điểm a khoản 1 Điều 214 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (“BLTTDS”) để tạm đình chỉ giải quyết vụ án.

Như vậy, trường hợp không thể xác định được nơi cư trú của người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng nêu trên thì Tòa án giải quyết như thế nào?

Giải đáp:

Trường hợp nguyên đơn và Tòa án không xác định được nơi cư trú của người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Tòa án áp dụng điểm a khoản 1 Điều 214 BLTTDS để tạm đình chỉ giải quyết vụ án.

Đồng thời, hướng dẫn nguyên đơn có quyền yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú hoặc yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích đối với người thừa kế quyền, nghĩa vụ tố tụng. Sau khi có kết quả thì Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung.


2. Vướng mắc 2 – Xác định người thứ ba sử dụng tài sản thế chấp (đất hoặc nhà trên đất) là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng

Vướng mắc:

Trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng có nguyên đơn là ngân hàng, Tòa án phải xem xét tính hợp pháp của hợp đồng thế chấp tài sản mà ngân hàng đã thẩm định tài sản trước khi cho vay, để làm cơ sở giải quyết vụ án.

Trường hợp sau khi ngân hàng thẩm định tài sản thế chấp mà có người thứ ba đang sử dụng tài sản này (đang sử dụng đất hoặc đang ở nhà trên đất) thì khi giải quyết vụ án, Tòa án có phải đưa những người này tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hay không?

Giải đáp:

Theo quy định tại khoản 4 Điều 68 BLTTDS, Tòa án xem xét việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của người thứ ba hay không, nếu có mà họ không tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác không đề nghị đưa họ vào thì Tòa án phải đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.


3. Vướng mắc 3 – Xử lý tài sản thế chấp khi bên thứ ba tháo dỡ nhà cũ (đang thế chấp) và xây dựng nhà mới trên đất nhưng không thông báo cho ngân hàng nhận thế chấp biết

Vướng mắc:

Trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng, bên vay dùng tài sản là quyền sử dụng đất và nhà trên đất thuộc quyền sở hữu, sử dụng của mình làm tài sản thế chấp để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng, sau đó bên thứ ba đã tháo dỡ nhà cũ để xây dựng nhà mới trên đất. Bên thứ ba biết rõ quyền sử dụng đất và nhà cũ trên đất đang được thế chấp cho ngân hàng nhưng không thông báo cho Ngân hàng và Ngân hàng cũng không biết việc bên thứ ba xây dựng nhà mới trên đất. Bên vay không trả nợ đúng hạn nên bị ngân hàng khởi kiện.

Khi giải quyết tranh chấp, Tòa án có cần phải định giá tài sản là căn nhà mới phát sinh trên đất hay không và giải quyết như thế nào đối với tài sản phát sinh này?

Giải đáp:

Căn nhà mới của bên thứ ba xây dựng trên đất là tài sản phát sinh sau khi bên vay thế chấp cho Ngân hàng nên khi giải quyết vụ án, Tòa án phải đưa bên thứ ba vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Tòa án phải căn cứ vào thỏa thuận của các bên trong hợp đồng thế chấp, yêu cầu của các bên đương sự để xem xét có định giá căn nhà mới hay không. Nếu việc định giá tài sản là cần thiết, kết quả định giá căn nhà mới có giá trị sử dụng trong quá trình giải quyết vụ án thì Tòa án tiến hành định giá tài sản này.

Nếu bên vay vi phạm nghĩa vụ trả nợ thì Tòa án tuyên phát mại tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất để thực hiện nghĩa vụ trả nợ của bên vay.

Quá trình thi hành án, bên thứ ba được ưu tiên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và mua tài sản gắn liền với đất nếu có nhu cầu. Trường hợp bên thứ ba không nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và không mua tài sản gắn liền với đất thì sẽ được thanh toán giá trị tài sản của mình trên đất theo quy định của pháp luật.


4. Vướng mắc 4 – Một bên đương sự không thống nhất việc mời tổ chức thẩm định giá

Vướng mắc:

Theo quy định của BLTTDS thì các đương sự có quyền thỏa thuận mời một tổ chức định giá độc lập, sau khi định giá sẽ căn cứ vào giá ghi trong chứng thư định giá của tổ chức định giá để giải quyết.

Tuy nhiên, trường hợp chỉ một trong các bên đương sự nhất trí mời tổ chức định giá, một hoặc các bên còn lại không nhất trí thì trường hợp này xử lý như thế nào?

Giải đáp:

Theo quy định tại khoản 2 Điều 104 BLTTDS, các đương sự trong vụ án có quyền thỏa thuận lựa chọn tổ chức thẩm định giá tài sản để định giá tài sản và cung cấp kết quả thẩm định giá cho tòa án để giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, trường hợp chỉ một trong các bên nhất trí mời tổ chức thẩm định giá tài sản và các bên còn lại không nhất trí thì xem như các bên không thỏa thuận được việc lựa chọn tổ chức thẩm định giá tài sản để thẩm định giá tài sản.

Do đó, Tòa án phải quyết định định giá tài sản và thành lập Hội đồng định giá theo điểm b khoản 3 Điều 104 BLTTDS để làm căn cứ giải quyết vụ án.


5. Vướng mắc 5 – Chủ hộ kinh doanh cá thể không là chủ thể được miễn án phí

Vướng mắc:

Khi giải quyết các tranh chấp Hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn là Ngân hàng với bị đơn là hộ kinh doanh cá thể, trong đó chủ hộ kinh doanh là người trên 60 tuổi. Hộ kinh doanh cá thể vay tiền để thực hiện hoạt động kinh doanh có mục đích lợi nhuận.

Vậy người trên 60 tuổi trong trường hợp này có được miễn án phí theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 không?

Giải đáp:

Theo khoản 2 Điều 81 Nghị định 01/2021/NĐ-CP thì chủ hộ kinh doanh chỉ là người đại diện cho hộ kinh doanh tham gia tố tụng tại Tòa án, nên hộ kinh doanh là chủ thể phải nộp án phí chứ không phải là chủ hộ kinh doanh.

Vì vậy, nếu chủ hộ kinh doanh là người trên 60 tuổi thì cũng không được miễn án phí theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.


Xem chi tiết CV 206 tại file dưới đây:

CV 206_TANDTC rut kn xet xu
.pdf
Tải về PDF • 3.69MB

Tin, bài: Cập nhật bởi LLVN.

Hình: Internet.

-------------------------------------

Lawlink Việt Nam (LLVN) cung cấp các dịch vụ tư vấn, đại diện trong hoà giải tranh chấp, tham gia tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong các vụ án kinh doanh thương mại theo thủ tục tố tụng tại toà án và thủ tục tố tụng trọng tài, bao gồm đại diện cho khách hàng trong công nhận và thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài tại Việt Nam.


-------------------------------------

𝐂𝐨𝐧𝐭𝐚𝐜𝐭 𝐮𝐬

Website: www.lawlink.com

Instagram: lawlink.vietnam

Facebook: Lawlink Vietnam

Phone: +84 908107788

Address: Phòng 10.2, Lầu 10, Tòa nhà Vietnam Business Center, 57-59 Hồ Tùng Mậu, phường Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh

22 lượt xem0 bình luận

Bài đăng gần đây

Xem tất cả

Comments


bottom of page